Quy chế bầu cử trong Đảng và 05 điều cần biết

Bầu cử là quá trình cho phép người dân tham gia vào việc lựa chọn người đại diện cho mình hoặc quyết định vấn đề quan trọng trong một tổ chức, một cộng đồng hoặc một quốc gia. Trong bầu cử, người dân được phép đi bỏ phiếu để chọn ra người hoặc các đại biểu sẽ đại diện cho ý kiến và quyền lợi của họ.

Bầu cử thường diễn ra theo một quy trình quy định và theo luật pháp của đất nước hoặc tổ chức đó. Thông thường, cử tri có quyền chọn một ứng cử viên hoặc một đại biểu từ danh sách các ứng cử viên hoặc đảng. Người nhận được số phiếu bầu nhiều nhất thường sẽ trở thành người đại diện được bầu chọn.

Bầu cử có thể được tổ chức để chọn ra các vị trí chính trị như tổng thống, thủ tướng, bộ trưởng, thành viên quốc hội hoặc các vị trí đại diện cấp địa phương như thị trưởng, ủy viên hội đồng, và các vị trí khác. Ngoài ra, bầu cử cũng có thể diễn ra để quyết định vấn đề quan trọng như việc thông qua luật pháp, biểu quyết về các chính sách công cộng, hay thay đổi hiến pháp.

Bầu cử là một phương thức quan trọng để thể hiện quyền dân chủ và đảm bảo sự đại diện công bằng và chính xác cho ý kiến của người dân. Nó tạo cơ hội cho người dân tham gia vào quyết định và góp phần xây dựng quốc gia hoặc cộng đồng mình.

1. Nguyên tắc bầu cử trong Đảng

Theo Điều 1 Quy chế ban hành kèm theo Quyết định 244-QĐ/TW ngày 09/6/2014 thì nguyên tắc bầu cử trong Đảng như sau:

Việc bầu cử trong Đảng thực hiện theo nguyên tắc tập trung dân chủ; bình đẳng, trực tiếp, đa số quá bán. Kết quả bầu cử từ chi bộ đến đảng bộ trực thuộc Trung ương phải được chuẩn y của cấp uỷ có thẩm quyền theo quy định.

2. Hình thức bầu cử trong Đảng

Hình thức bầu cử trong Đảng theo Điều 3 Quy chế ban hành kèm theo Quyết định 244-QĐ/TW ngày 09/6/2014 như sau:

(1) Bỏ phiếu kín thực hiện trong các trường hợp:

– Bầu ban chấp hành đảng bộ, chi bộ (gọi tắt là cấp uỷ); bầu Ban Chấp hành Trung ương.

– Bầu ban thường vụ, bí thư, phó bí thư cấp uỷ.

– Bầu Bộ Chính trị, Tổng Bí thư, Ban Bí thư.

– Bầu uỷ ban kiểm tra, chủ nhiệm, phó chủ nhiệm uỷ ban kiểm tra.

– Bầu đại biểu dự đại hội đảng bộ cấp trên.

– Lấy phiếu xin ý kiến về các ứng cử viên để đưa vào danh sách bầu cử.

– Giới thiệu đảng viên ứng cử các chức danh lãnh đạo Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân.

(2) Biểu quyết giơ tay (sử dụng thẻ đảng viên để biểu quyết) thực hiện trong các trường hợp:

– Bầu các cơ quan điều hành, giúp việc đại hội, hội nghị (đoàn chủ tịch đại hội, đoàn thư ký, chủ tịch hội nghị, ban thẩm tra tư cách đại biểu, ban kiểm phiếu…).

– Thông qua số lượng và danh sách bầu cử.

3. Quyền bầu cử trong Đảng

Quyền bầu cử trong Đảng theo Điều 15 Quy chế ban hành kèm theo Quyết định 244-QĐ/TW ngày 09/6/2014 gồm:

– Chỉ đại biểu chính thức của đại hội đại biểu các cấp và đảng viên chính thức của đại hội đảng viên mới có quyền bầu cấp uỷ cấp mình và bầu đại biểu dự đại hội đảng bộ cấp trên.

– Ở đại hội đảng viên, đảng viên sinh hoạt tạm thời và đảng viên dự bị không có quyền bầu cử.

4. Quy định về số dư và danh sách bầu cử trong Đảng

Quy định về số dư và danh sách bầu cử trong Đảng theo Điều 16 Quy chế ban hành kèm theo Quyết định 244-QĐ/TW ngày 09/6/2014 như sau:

– Số lượng ứng cử viên trong danh sách bầu cử cấp ủy và ban thường vụ cấp ủy phải nhiều hơn số lượng cần bầu; số dư tối đa do đại hội (hội nghị) quyết định nhưng không quá 30% số lượng cần bầu, trong đó cấp ủy triệu tập đại hội (hội nghị) chuẩn bị số lượng nhân sự cấp ủy và ban thường vụ có số dư từ 10% – 15%.

– Danh sách ứng cử viên do cấp ủy cấp triệu tập đại hội (hội nghị) chuẩn bị là danh sách đề cử chính thức với đại hội (hội nghị).

– Đại hội (hội nghị) thảo luận và biểu quyết lập danh sách như sau:

+ Trường hợp danh sách gồm nhân sự do cấp ủy triệu tập đại hội đề cử, do đại biểu đại hội (hội nghị) đề cử và người ứng cử chưa đủ số dư 30% so với số lượng cần bầu thì đại hội (hội nghị) quyết định (có thể lấy danh sách đó làm danh sách bầu cử).

+ Trường hợp danh sách gồm nhân sự do cấp ủy triệu tập đề cử, do đại biểu đại hội (hội nghị) đề cử và người ứng cử nhiều hơn 30% so với số lượng cần bầu thì xin ý kiến đại hội (hội nghị) về những người được đại biểu đại hội (hội nghị) đề cử và người ứng cử.

Căn cứ kết quả xin ý kiến, lựa chọn theo số phiếu đồng ý từ cao đến thấp để lập danh sách bầu cử có số dư tối đa không quá 30% so với số lượng cần bầu.

Trường hợp danh sách bầu cử đã đủ số dư 30% mà ở cuối danh sách có nhiều người có số phiếu bằng nhau thì đại hội (hội nghị) xem xét, quyết định lựa chọn theo cơ cấu, tuổi đảng, hoặc có thể để số dư cao hơn 30% so với số lượng cần bầu.

– Danh sách bầu cử xếp thứ tự tên người theo vần A,B,C…; nếu có nhiều người trùng tên thì xếp theo họ; nếu trùng cả họ thì xếp theo tên đệm; nếu cả 3 dữ kiện này đều trùng thì người có tuổi đảng cao hơn được xếp tên trên.

– Trường hợp cần bầu lấy số lượng 1 người thì danh sách bầu cử là 2 người; bầu lấy số lượng 2 người thì danh sách bầu cử là 3 người; bầu lấy số lượng từ 3 người trở lên thì danh sách bầu cử có số dư tối đa không quá 1/3 số lượng cần bầu.

– Nếu bầu một lần chưa đủ số lượng quy định, có bầu tiếp hay không do đại hội (hội nghị) quyết định. Danh sách bầu cử lần sau phải có số dư lấy theo kết quả bầu cử lần trước từ cao đến thấp của những người chưa trúng cử.

5. Quy định về phiếu bầu cử trong Đảng

Phiếu bầu cử trong Đảng theo Điều 17 Quy chế ban hành kèm theo Quyết định 244-QĐ/TW ngày 09/6/2014 như sau:

– Phiếu bầu in họ và tên những người trong danh sách bầu cử (nơi không có điều kiện in phiếu, ban kiểm phiếu đại hội ghi danh sách bầu cử trên phiếu); đóng dấu của cấp uỷ triệu tập đại hội ở góc trái phía trên của phiếu bầu, chi bộ trực thuộc đảng uỷ cơ sở (hoặc đảng bộ bộ phận) thì đóng dấu của cấp uỷ cơ sở.

Người bầu cử nếu không bầu cho ai trong danh sách bầu cử thì gạch giữa cả chữ họ và tên của người mà mình không bầu.

Trường hợp danh sách bầu không có số dư, phiếu bầu được chia làm 4 cột là: số thứ tự; họ và tên; đồng ý; không đồng ý. Người bầu cử đánh dấu X vào ô đồng ý hoặc ô không đồng ý tương ứng với họ và tên người trong danh sách bầu cử.

– Phiếu hợp lệ và không hợp lệ:

+ Phiếu hợp lệ là phiếu do ban kiểm phiếu phát ra, phiếu bầu đủ hoặc thiếu số lượng cần bầu; phiếu bầu mà danh sách bầu cử chỉ có một người, người bầu cử đánh dấu X vào một trong hai ô đồng ý hoặc không đồng ý;

Phiếu bầu nhiều người mà không có số dư, người bầu cử đánh dấu X vào cả hai ô (đồng ý và không đồng ý) hoặc không đánh dấu X vào cả hai ô (đồng ý và không đồng ý) của một người hoặc một số người trong danh sách bầu cử.

+ Phiếu không hợp lệ là phiếu không do ban kiểm phiếu phát ra; phiếu bầu nhiều hơn số lượng quy định; phiếu không bầu cho ai trong danh sách bầu cử nhiều người;

Phiếu đánh dấu X vào cả ô đồng ý và ô không đồng ý trong danh sách bầu cử chỉ có một người; phiếu bầu người ngoài danh sách bầu cử; phiếu có đánh dấu hoặc dùng nhiều loại mực; phiếu ký tên hoặc viết thêm.

TÌM KIẾM TIN TỨC
Mới cập nhật