Người lao động chấm dứt hợp đồng trái luật

Câu hỏi:

Tôi có ký với công ty một hợp đồng lao động không xác định thời hạn từ năm 2014. Tuy nhiên, vì một số lý do cá nhân mà tôi muốn xin nghỉ việc. Theo tôi được biết thì phải báo trước cho công ty 45 ngày mới được nghỉ. Tuy nhiên, từ thời điểm xin nghỉ việc, tôi làm việc được khoảng 10 ngày thì tôi không đến công ty. Trong thời gian không đến công ty, tôi cũng không gọi điện thoại báo cho công ty biết lý do nghỉ. Trường hợp này, công ty có được coi là tôi nghỉ việc theo khoản 3 điều 126 Bộ luật lao động không? Và khi tôi chấm dứt HĐLĐ thì tôi có phải bồi thường cho công ty không?

Trả lời:

Về việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của bạn:

Căn cứ theo quy định tại Điều 37 Bộ luật lao động 2012 về Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động như sau:

“1. Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn, hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn trong những trường hợp sau đây:

a) Không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm điều kiện làm việc đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;

b) Không được trả lương đầy đủ hoặc trả lương không đúng thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;

c) Bị ngược đãi, quấy rối tình dục, cưỡng bức lao động;

d) Bản thân hoặc gia đình có hoàn cảnh khó khăn không thể tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động;

đ) Được bầu làm nhiệm vụ chuyên trách ở cơ quan dân cử hoặc được bổ nhiệm giữ chức vụ trong bộ máy nhà nước;

e) Lao động nữ mang thai phải nghỉ việc theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền;

g) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 90 ngày liên tục đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và một phần tư thời hạn hợp đồng đối với người làm việc theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa được hồi phục.

2. Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại khoản 1 Điều này, người lao động phải báo cho người sử dụng lao động biết trước:

a) Ít nhất 3 ngày làm việc đối với các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và g khoản 1 Điều này;

b) Ít nhất 30 ngày nếu là hợp đồng lao động xác định thời hạn; ít nhất 03 ngày làm việc nếu là hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng đối với các trường hợp quy định tại điểm d và điểm đ khoản 1 Điều này;

c) Đối với trường hợp quy định tại điểm e khoản 1 Điều này thời hạn báo trước cho người sử dụng lao động được thực hiện theo thời hạn quy định tại Điều 156 của Bộ luật này.

3. Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, nhưng phải báo cho người sử dụng lao động biết trước ít nhất 45 ngày, trừ trường hợp quy định tại Điều 156 của Bộ luật này.”

Theo như bạn trình bày, bạn và công ty có giao kết một hợp đồng không định thời hạn, do vậy căn theo như quy định trên, đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn thì pháp luật không bắt buộc người lao động phải nghỉ việc vì một lý do cụ thể nào mà người lao động có thể nghỉ việc mà không có lý do nhưng phải thực hiện nghĩa vụ báo trước cho người sử dụng lao động biết trước ít nhất là 45 ngày.

Trong trường hợp này, kể từ thời điểm bạn xin nghỉ việc đến thời điểm bạn chính thức nghỉ việc mới khoảng 10 ngày, như vậy, bạn đã chưa thực hiện đúng nghĩa vụ báo trước với công ty. Do vậy, bạn đã chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật.

Do đó, bạn phải thực hiện các nghĩa vụ theo quy định tại Điều 43 Bộ luật lao động 2012 như sau:

“Điều 43. Nghĩa vụ của người lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật

1. Không được trợ cấp thôi việc và phải bồi thường cho người sử dụng lao động nửa tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.

2. Nếu vi phạm quy định về thời hạn báo trước thì phải bồi thường cho người sử dụng lao động một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động trong những ngày không báo trước.

3. Phải hoàn trả chi phí đào tạo cho người sử dụng lao động theo quy định tại Điều 62 của Bộ luật này”.

Như vậy, khi bạn chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật thì bạn sẽ phải bồi thường cho người sử dụng lao động nửa tháng tiền lương theo hợp đồng lao động mà bạn đang ký kết với công ty. Đồng thời, vì vi phạm quy định về thời hạn báo trước, do đó, bạn phải bồi thường cho công ty một khoản tiền tương ứng với tiền lương của bạn trong những ngày không báo trước, cụ thể là 35 ngày lương.

Thứ hai: Về việc xử lý kỷ luật sa thải với người lao động.

Một trong những căn cứ chấm dứt hợp đồng lao động được pháp luật ghi nhận đó là trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động do người lao động bị xử lý kỷ luật sa thải (Khoản 8, Điều 36 Bộ luật lao động 2012).

Căn cứ theo quy định tại Điều 126 Bộ luật lao động 2012 về Áp dụng hình thức xử lý kỷ luật sa thải như sau:

“Hình thức xử lý kỷ luật sa thải được người sử dụng lao động áp dụng trong những trường hợp sau đây:

1. Người lao động có hành vi trộm cắp, tham ô, đánh bạc, cố ý gây thương tích, sử dụng ma tuý trong phạm vi nơi làm việc, tiết lộ bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ của người sử dụng lao động, có hành vi gây thiệt hại nghiêm trọng hoặc đe doạ gây thiệt hại đặc biệt nghiêm trọng về tài sản, lợi ích của người sử dụng lao động;

2. Người lao động bị xử lý kỷ luật kéo dài thời hạn nâng lương mà tái phạm trong thời gian chưa xoá kỷ luật hoặc bị xử lý kỷ luật cách chức mà tái phạm.

Tái phạm là trường hợp người lao động lặp lại hành vi vi phạm đã bị xử lý kỷ luật mà chưa được xóa kỷ luật theo quy định tại Điều 127 của Bộ luật này;

3. Người lao động tự ý bỏ việc 05 ngày cộng dồn trong 01 tháng hoặc 20 ngày cộng dồn trong 01 năm mà không có lý do chính đáng.

Các trường hợp được coi là có lý do chính đáng bao gồm: thiên tai, hoả hoạn, bản thân, thân nhân bị ốm có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền và các trường hợp khác được quy định trong nội quy lao động.”

Theo khoản 3, điều 126 Bộ luật lao động 2012 nói trên thì khi người lao động tự ý bỏ việc 05 ngày cộng dồn trong 01 tháng mà không có lý do chính đáng thì người sử dụng lao động được áp dụng hình thức xử lý kỷ luật sa thải với người lao động.

Điều 31 Nghị định 05/2015/NĐ-CP hướng dẫn khoản 3, điều 126 Bộ luật lao động 2012 như sau:

Điều 31. Kỷ luật sa thải đối với người lao động tự ý bỏ việc

1. Áp dụng hình thức xử lý kỷ luật sa thải đối với người lao động tự ý bỏ việc 05 ngày làm việc cộng dồn trong phạm vi 30 ngày kể từ ngày đầu tiên tự ý bỏ việc hoặc 20 ngày làm việc cộng đồn trong phạm vi 365 ngày kể từ ngày đầu tiên tự ý bỏ việc mà không có lý do chính đáng.

2. Người lao động nghỉ việc có lý do chính đáng trong các trường hợp sau:

a) Do thiên tai, hỏa hoạn;

b) Bản thân, bố đẻ, mẹ đẻ, bố nuôi, mẹ nuôi, bố vợ, mẹ vợ, bố chồng, mẹ chồng, vợ hoặc chồng, con đẻ, con nuôi hợp pháp bị ốm có giấy xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật;

c) Các trường hợp khác được quy định trong nội quy lao động.”

Trong trường hợp của bạn, vì bạn không thực hiện đúng nghĩa vụ báo trước 45 ngày cho công ty trước khi nghỉ việc mà đã nghỉ việc khi chỉ mới thông báo cho công ty biết 10 ngày. Do đó, bạn vẫn chưa được chấm dứt hợp đồng lao động, vì vậy những ngày bạn nghỉ tiếp theo vẫn được tính là những ngày làm việc bình thường. Và bạn nghỉ việc mà không gọi điện hay thông báo bất kỳ lý do gì với công ty nên theo các căn cứ nêu trên, công ty có quyền sa thải bạn theo đúng quy định của pháp luật.