Đối tượng điều chỉnh của Luật hôn nhân và gia đình là gì?

Khi nhắc đến văn bản pháp luật điều chỉnh về quan hệ hôn nhân, cha mẹ, con cái, hay các việc phát sinh chấm dứt các quan hệ này thì chúng ta sẽ nghĩ ngay đến Luật hôn nhân và gia đình. Luật hôn nhân và gia đình là bộ quy tắc xử sự trong hôn nhân và gia đình với chuẩn mực nhằm duy trì trật tự xã hội ổn định. Tuy nhiên để tìm hiểu về luật hôn nhân và gia đình, chúng ta không chỉ đơn thuần đọc những quy định của luật mà còn phải hiểu bản chất của nó. Luật hôn nhân gia đình là một ngành luật độc lập có đối tượng điều chỉnh và phương pháp điều chỉnh riêng. Vậy các quy định liên quan đến Luật hôn nhân và gia đình như thế nào? Tìm hiểu Luật này cần xem xét những khía cạnh gì? Để giải đáp các thắc mắc ở trên, Luật ACC  xin giới thiệu bài viết “Đối tượng điều chỉnh của Luật hôn nhân và gia đình là gì?“. Mời bạn đọc cùng tham khảo.

Căn cứ pháp lý

  • Luật hôn nhân và gia đình 2014

Giới thiệu về Luật hôn nhân và gia đình

Luật hôn nhân và gia đình là một văn bản quy phạm pháp luật, có ý nghĩa pháp lý là bộ quy tắc xử sự trong hôn nhân và gia đình. Chính nội dung bộ luật đã có chứa những quy định về hôn nhân đúng với chuẩn mực nhằm duy trì trật tự xã hội ổn định trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình.

Pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam có nhiệm vụ chính là xây dựng, hoàn thiện cũng như bảo hộ cho hôn nhân và gia đình, là hành lang chuẩn mực đạo đức, đảm bảo quyền lợi và nghĩa vụ của các thành viên trong gia đình, kế thừa và phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc.

Cho tới nay, pháp luật Việt Nam đã trải qua 4 phiên bản của Luật hôn nhân và gia đình. Bộ luật hôn nhân gia đình mới nhất đang được áp dụng hiện nay là Bộ luật hôn nhân và gia đình ban hành năm 2014, các phiên bản trước đó gồm Luật hôn nhân và gia đình 1959, 1986, 2000.

Tại kỳ họp thứ 11, Quốc hội khóa 1 đã chính thức thông qua Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959, được quy định đầy đủ trong 6 chương với 35 điều cơ bản về các vấn đề trong quan hệ hôn nhân.

Trên cơ sở kế thừa những nội dung cốt lõi của Luật hôn nhân và gia đình năm 1959, Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 đã bao quát đầy đủ về các vấn đề hôn nhân gia đình tại nước ta. Văn bản quy phạm này gồm có 10 chương với 57 điều.

Ngày 09/06/2000, Quốc hội ban hành Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, thay thế cho Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986, có hiệu lực từ ngày 01/01/2001. Nội dung chính trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 hướng đến xây dựng một gia đình ấm no, hạnh phúc, bình đẳng, tiến bộ, bền vững.

Sau thời gian áp dụng khá lâu và xuất hiện nhiều điểm bất cập. Vì vậy, ngày 19/06/2014, Quốc hội đã thông qua Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thay thế cho tất các văn bản trước đó, có hiệu lực từ ngày 01/01/2015. Hiện tại, văn bản pháp luật này vẫn đang được áp dụng đến tận thời điểm này.

Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam có nhiệm vụ góp phần xây dựng, hoàn thiện và bảo vệ chế độ hôn nhân và gia đình tiến bộ, xây dựng chuẩn mực pháp lí cho cách ứng xử của các thành viên trong gia đình, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các thành viên trong gia đình, kế thừa và phát huy truyền thống đạo đức tốt đẹp của gia đình Việt Nam nhằm xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc và bền vững.

Luật hôn nhân gia đình là gì?

Khái niệm luật hôn nhân và gia đình được đề cập đến như hệ thống các nguyên tắc cơ bản về trách nhiệm của công dân, của nhà nước và xã hội trong xây dựng, củng cố chế độ hôn nhân gia đình; điều chỉnh các quan hệ phát sinh do kết hôn, ly hôn, nhận con nuôi, sinh nở, giám hộ, cấp dưỡng; điều chỉnh các quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản giữa vợ và chồng, giữa cha mẹ và con, giữa ông bà với cháu, giữa anh chị em với nhau và giữa các thành viên gia đình và quy định việc xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về hôn nhân gia đình.

Theo đó, luật hôn nhân gia đình sẽ được hiểu theo các khía cạnh sau:

– Với ý nghĩa là một môn học: Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam là hệ thống khái niệm, quan điểm, nhận thức, đánh giá mang tính lý luận về pháp luật hôn nhân và gia đình Và thực tiễn áp dụng, thi hành pháp luật hôn nhân và gia đình.

– Với ý nghĩa là một văn bản pháp luật cụ thể: Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam là văn bản pháp luật trong đó có chứa đựng các quy phạm pháp luật hôn nhân và gia đình. Ví dụ: Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959, Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000.

– Với ý nghĩa là một ngành luật: Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam là tổng hợp các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ hôn nhân và gia đình, bao gồm các quan hệ về nhân thân và quan hệ về tài sản giữa vợ và chồng, giữa cha mẹ và con, giữa những thành viên trong gia đình.

Quy định về luật hôn nhân và gia đình năm 2014

 

Đối tượng điều chỉnh của Luật hôn nhân và gia đình là gì?
Đối tượng điều chỉnh của Luật hôn nhân và gia đình là gì?

Khi tìm hiểu luật hôn nhân và gia đình dưới ý nghĩa là một ngành luật, Luật này sẽ có đối tượng điều chỉnh, phạm vi điều chỉnh và phương pháp điều chỉnh riêng. Cụ thể:

Phạm vi điều chỉnh của Luật hôn nhân và gia đình

Phạm vi điều chỉnh của Luật hôn nhân và gia đình được quy định ngay tại Điều 1 của Luật này. Theo đó:

“Luật này quy định chế độ hôn nhân và gia đình; chuẩn mực pháp lý cho cách ứng xử giữa các thành viên gia đình; trách nhiệm của cá nhân, tổ chức, Nhà nước và xã hội trong việc xây dựng, củng cố chế độ hôn nhân và gia đình.”

Đối tượng điều chỉnh của Luật Hôn nhân và gia đình

Đối tượng điều chỉnh của Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam là các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình, cụ thể là các quan hệ về nhân thân và quan hệ về tài sản phát sinh giữa vợ và chồng, giữa cha mẹ và các con, giữa những người thân thích ruột thịt khác.

Đối tượng điều chỉnh của Luật Hôn nhân và gia đình có các đặc điểm sau:

– Quan hệ nhân thân là nhóm quan hệ chủ đạo và có ý nghĩa quyết định trong các quan hệ hôn nhân và gia đình.

– Yếu tố tình cảm gắn bó giữa các chủ thể là đặc điểm cơ bản trong quan hệ hôn nhân và gia đình.

– Quyền và nghĩa vụ hôn nhân và gia đình gắn liền với nhân thân mỗi chủ thể, không thể chuyển giao cho người khác được.

– Quyền và nghĩa vụ trong quan hệ hôn nhân và gia đình tồn tại lâu dài, bền vững.

– Quyền và nghĩa vụ tài sản trong quan hệ hôn nhân và gia đình không mang tính chất đền bù, ngang giá.

Phương pháp điều chỉnh của Luật Hôn nhân và gia đình

Phương pháp điều chỉnh của Luật Hôn nhân và gia đình là những biện pháp, cách thức tác động của các quy phạm pháp luật hôn nhân và gia đình tới các quan hệ xã hội thuộc đối tượng điều chỉnh của Luật Hôn nhân và gia đình phù hợp với ý chí của Nhà nước.

Xuất phát từ đặc điểm của các quan hệ xã hội thuộc đối tượng điều chỉnh của Luật Hôn nhân và gia đình là quan hệ giữa các chủ thể gắn bó với nhau bởi yếu tố tình cảm, huyết thống hoặc nuôi dưỡng nên Luật Hôn nhân và gia đình có phương pháp điều chỉnh linh hoạt và mềm dẻo. Hầu hết các quy phạm pháp luật hôn nhân và gia đình không quy định biện pháp chế tài.

Phương pháp điều chỉnh của Luật Hôn nhân và gia đình có các đặc điểm sau:

– Trong quan hệ hôn nhân và gia đình, quyền và nghĩa vụ của các chủ thể luôn tương ứng với nhau. Đồng thời, các chù thể tham gia quan hệ hôn nhân và gia đình vừa có quyền, vừa phải thực hiện nghĩa vụ. Vì vậy, trong các điều luật luôn quy định các chủ thể có “quyền và nghĩa vụ”.

– Các chủ thể khi thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình phải xuất phát từ lợi ích chung của gia đình.

– Các chủ thể không được phép bằng sự tự thỏa thuận để làm thay đổi những quyền và nghĩa vụ mà pháp luật đã quy định.

– Các quy phạm pháp luật hôn nhân và gia đình gắn bó mật thiết với các quy tắc đạo đức, phong tục tập quán và lẽ sống trong xã hội.

Nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình theo Luật hôn nhân và gia đình

Theo Điều 2 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định về những nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình như sau:

1. Hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng.

2. Hôn nhân giữa công dân Việt Nam thuộc các dân tộc, tôn giáo, giữa người theo tôn giáo với người không theo tôn giáo, giữa người có tín ngưỡng với người không có tín ngưỡng, giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ.

3. Xây dựng gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc; các thành viên gia đình có nghĩa vụ tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; không phân biệt đối xử giữa các con.

4. Nhà nước, xã hội và gia đình có trách nhiệm bảo vệ, hỗ trợ trẻ em, người cao tuổi, người khuyết tật thực hiện các quyền về hôn nhân và gia đình; giúp đỡ các bà mẹ thực hiện tốt chức năng cao quý của người mẹ; thực hiện kế hoạch hóa gia đình.

5. Kế thừa, phát huy truyền thống văn hóa, đạo đức tốt đẹp của dân tộc Việt Nam về hôn nhân và gia đình.

Các nội dung của pháp luật hôn nhân và gia đình

Luật hôn nhân và gia đình 2014 bao gồm các nội dung cơ bản của pháp luật hôn nhân và gia đình như sau:

– Quy định về việc kết hôn:

Về các quy định kết hôn đúng và trái với pháp luật, việc kết hôn được đề cập tới là sự việc do nam nữ tự nguyện, là việc cả hai xác lập quan hệ vợ chồng theo quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn.

Khi tìm hiểu về luật hôn nhân và gia đình, có thể thấy quy định về điều kiện đăng ký kết hôn gồm có điều kiện về độ tuổi kết hôn; sự tự nguyện của hai bên khi kết hôn; các trường hợp cấm kết hôn, xử lý vi phạm chế độ hôn nhân…. Khi kết hôn phải tới đăng ký tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, ở đây là cơ quan hộ tịch địa phương nơi cư trú.

Pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam còn quy định về những trường hợp được phép hủy bỏ quan hệ hôn nhân trái pháp luật, người có quyền yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật, hậu quả pháp lý của hôn nhân trái pháp luật. Khái niệm hôn nhân và gia đình có thể phụ thuộc vào nhận thức của từng người, nhưng phải phù hợp với ý chí của luật pháp hiện hành.

– Quy định về quyền và nghĩa vụ của vợ chồng, con, người thân trong gia đình

Quyền, lợi ích và nghĩa vụ của vợ chồng phải xuất phát từ những quyền cơ bản của công dân.. Nói về nghĩa vụ và quyền nhân thân giữa vợ và chồng tức là nói tới những lợi ích tinh thần, tình cảm gia đình, sự quan tâm và tôn trọng lẫn nhau, quan hệ giữa cha mẹ với các con và với những thành viên trong gia đình;… Bên cạnh đó, không thể không nói đến các quyền, nghĩa vụ đối với tài sản của vợ chồng như quyền sở hữu, quyền và nghĩa vụ cấp dưỡng, quyền thừa kế tài sản;… Những khái niệm luật hôn nhân và gia đình đề cập luôn kết hợp hài hòa cùng với các quy tắc đạo đức, lẽ sống trong xã hội.

Luật hôn nhân và gia đình còn quy định quyền và nghĩa vụ của bố mẹ với con chưa thành niên. Trong đó bao gồm các nội dung như nghĩa vụ nuôi dưỡng, thương yêu, trông nom, chăm sóc, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của con; quyền và nghĩa vụ giáo dục con;… Con từ khi sinh ra đến khi đủ 18 tuổi thuộc nghĩa vụ nuôi dưỡng, chăm sóc của bố mẹ. ]

Bên cạnh đó, con cái cũng có nghĩa vụ chăm sóc và nuôi dưỡng cha, mẹ. Quyền và nghĩa vụ nuôi dưỡng, chăm sóc luôn mang tính nhân thân. Bên cạnh nghĩa vụ nuôi dưỡng còn có nghĩa vụ cấp dưỡng giữa cha, mẹ và con cái. Cho dù hôn nhân và gia đình trong xã hội hiện nay có nhiều thay đổi, nghĩa vụ nuôi dưỡng và cấp dưỡng cũng không thể bị thay thế bằng nghĩa vụ khác.

– Quy định về việc chấm dứt hôn nhân, ly hôn, giải quyết quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản của vợ, chồng, con sau ly hôn, chấm dứt hôn nhân

Pháp luật hôn nhân và gia đình quy định cụ thể về việc chấm dứt hôn nhân. Trong trường hợp hai bên muốn kết thúc quan hệ vợ chồng, hoặc một bên muốn ly hôn đơn phương vì mục đích hôn nhân không đạt được, Tòa án giải quyết ly hôn cho vợ chồng theo quy định pháp luật. Hôn nhân chỉ chính thức chấm dứt khi có bản án ly hôn Tòa đưa ra.

Khi một bên vợ, chồng chết hoặc có quyết định của Tòa án tuyên bố vợ hoặc chồng đã chết, luật quy định về thời điểm chấm dứt hôn nhân là thời điểm tuyên bố một bên qua đời. Việc giải quyết tài sản của vợ chồng; quan hệ nhân thân, tài sản khi vợ, chồng bị tuyên bố đã chết mà trở về tuân thủ quy định của bộ luật.

– Hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài

Hôn nhân có yếu tố nước ngoài được pháp luật bảo hộ và tôn trọng. Khi kết hôn có yếu tố nước ngoài, việc hợp pháp hóa lãnh sự giấy tờ, tài liệu về hôn nhân và gia đình được tạo điều kiện tối đa. Mọi giấy tờ trong quá trình giải quyết các sự vụ trong hôn nhân phải được hợp pháp hóa lãnh sự, trừ các trường hợp được pháp luật cho phép. Giải quyết các vấn đề hôn nhân tuân theo pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam hoặc pháp luật nước ngoài nơi một trong các bên mang quốc tịch.