Di sản văn hoá là gì và phân loại đối với di sản văn hoá ?

Di sản văn hóa là tài nguyên văn hóa có giá trị quan trọng cho một quốc gia, một cộng đồng hoặc nhân loại. Đó là những di tích, công trình kiến trúc, danh lam thắng cảnh, di vật, tác phẩm nghệ thuật, truyền thống, tập tục, ngôn ngữ, kiến thức và các yếu tố văn hóa khác mà mang lại sự đặc biệt và độc đáo cho một vùng đất hay một dân tộc. Di sản văn hóa có thể bao gồm di sản văn hóa phi vật thể như truyền thống âm nhạc, múa rối, diễn xuất, hát bội, truyền thống ẩm thực, và cảnh quan văn hóa. Ngoài ra, di sản văn hóa còn gồm các công trình kiến trúc lịch sử, ngôi chùa, đền đài, lâu đài, nhà thờ, khu phố cổ, và các công trình có giá trị văn hóa khác. Di sản văn hóa được bảo tồn và truyền tải qua các hoạt động như nghiên cứu, khôi phục, bảo quản, giáo dục và quảng bá, để thế hệ sau có thể tiếp tục tận hưởng và tôn vinh giá trị văn hóa của quá khứ.

1. Thế nào là di sản văn hoá?

Theo Điều 1 Luật Di sản văn hoá 2001 thì di sản văn hoá là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác ở nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

2. Phân loại đối với di sản văn hoá

Theo Điều 1 Luật Di sản văn hoá 2001 và Điều 2 Nghị định 98/2010/NĐ-CP thì di sản văn hoá gồm 02 loại như sau:

2.1. Di sản văn hoá phi vật thể

– Theo khoản 1 Điều 4 Luật Di sản văn hoá 2001 (sửa đổi 2009) thì di sản văn hoá phi vật thể là sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng hoặc cá nhân, vật thể và không gian văn hóa liên quan, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học,

Thể hiện bản sắc của cộng đồng, không ngừng được tái tạo và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức khác.

– Di sản văn hoá phi vật thể bao gồm:

+ Tiếng nói, chữ viết;

+ Ngữ văn dân gian;

+ Nghệ thuật trình diễn dân gian;

+ Tập quán xã hội và tín ngưỡng;

+ Lễ hội truyền thống;

+ Nghề thủ công truyền thống;

+ Tri thức dân gian.

2.2. Di sản văn hoá vật thể

– Theo khoản 2 Điều 4 Luật Di sản văn hoá 2001 thì di sản văn hoá vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học, bao gồm di tích lịch sử – văn hoá, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia.

– Di sản văn hoá vật thể bao gồm:

+ Di tích lịch sử – văn hóa, danh lam thắng cảnh;

+ Di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia.

3. Mục đích sử dụng của di sản văn hoá

Theo Điều 12 Luật Di sản văn hoá 2001 thì di sản văn hoá được sử dụng nhằm mục đích:

– Phát huy giá trị di sản văn hoá vì lợi ích của toàn xã hội;

– Phát huy truyền thống tốt đẹp của cộng đồng các dân tộc Việt Nam;

– Góp phần sáng tạo những giá trị văn hoá mới, làm giàu kho tàng di sản văn hoá Việt Nam và mở rộng giao lưu văn hoá quốc tế.

4. Những hành vi bị nghiêm cấm đối với di sản văn hoá

Theo Điều 13 Luật Di sản văn hoá 2001 (sửa đổi 2009) quy định những hành vi bị nghiêm cấm đối với di sản văn hoá như sau:

– Chiếm đoạt, làm sai lệch di tích lịch sử – văn hoá, danh lam thắng cảnh;

– Huỷ hoại hoặc gây nguy cơ huỷ hoại di sản văn hoá;

– Đào bới trái phép địa điểm khảo cổ; xây dựng trái phép, lấn chiếm đất đai thuộc di tích lịch sử – văn hoá, danh lam thắng cảnh;

– Mua bán, trao đổi, vận chuyển trái phép di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc di tích lịch sử – văn hoá, danh lam thắng cảnh và di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia có nguồn gốc bất hợp pháp; đưa trái phép di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia ra nước ngoài.

–  Lợi dụng việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa để trục lợi, hoạt động mê tín dị đoan và thực hiện những hành vi khác trái pháp luật.

5. Quy định về quyền và nghĩa vụ đối với di sản văn hoá

5.1. Quyền và nghĩa vụ của cá nhân, tổ chức đối với di sản văn hoá

Theo Điều 14 Luật Di sản văn hoá 2001 quy định về quyền và nghĩa vụ của cá nhân, tổ chức đối với di sản văn hoá như sau:

– Sở hữu hợp pháp di sản văn hoá;

– Tham quan, nghiên cứu di sản văn hoá;

– Tôn trọng, bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá;

– Thông báo kịp thời địa điểm phát hiện di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia, di tích lịch sử – văn hoá, danh lam thắng cảnh; giao nộp di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia do mình tìm được cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền nơi gần nhất;

– Ngăn chặn hoặc đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền ngăn chặn, xử lý kịp thời những hành vi phá hoại, chiếm đoạt, sử dụng trái phép di sản văn hoá.

5.2. Quyền và nghĩa vụ của cá nhân, tổ chức là chủ sở hữu di sản văn hoá

Theo Điều 15 Luật Di sản văn hoá 2001 quy định về quyền và nghĩa vụ của cá nhân, tổ chức là chủ sở hữu di sản văn hoá như sau:

– Có các quyền và nghĩa vụ của cá nhân, tổ chức tại mục 5.1;

– Thực hiện các biện pháp bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá; thông báo kịp thời cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong trường hợp di sản văn hoá có nguy cơ bị làm sai lệch giá trị, bị huỷ hoại, bị mất;

– Gửi sưu tập di sản văn hoá phi vật thể, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia vào bảo tàng nhà nước hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong trường hợp không đủ điều kiện và khả năng bảo vệ và phát huy giá trị;

– Tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức, cá nhân tham quan, du lịch, nghiên cứu di sản văn hoá;

– Thực hiện các quyền và nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.

5.3. Quyền và nghĩa vụ của cá nhân, tổ chức trực tiếp quản lý di sản văn hoá

Theo Điều 16 Luật Di sản văn hoá 2001 quy định về quyền và nghĩa vụ của cá nhân, tổ chức trực tiếp quản lý di sản văn hoá như sau:

– Bảo vệ, giữ gìn di sản văn hoá;

– Thực hiện các biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn kịp thời các hành vi xâm hại di sản văn hoá;

– Thông báo kịp thời cho chủ sở hữu hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền nơi gần nhất khi di sản văn hoá bị mất hoặc có nguy cơ bị huỷ hoại;

– Tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức, cá nhân tham quan, du lịch, nghiên cứu di sản văn hoá;

– Thực hiện các quyền và nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.