Đối tượng, phương pháp điều chỉnh của bộ luật tố tụng dân sự ?

Bộ luật Tố tụng Dân sự là một bộ luật quan trọng trong hệ thống pháp luật của Việt Nam, quy định các quy trình và thủ tục pháp lý liên quan đến giải quyết các tranh chấp dân sự và hành vi vi phạm nghĩa vụ dân sự. Bộ luật này được ban hành lần đầu vào năm 2004 và đã được sửa đổi, bổ sung vào năm 2015.

Bộ luật Tố tụng Dân sự quy định các quy trình và thủ tục pháp lý liên quan đến các vấn đề dân sự, bao gồm các quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia tranh chấp, thủ tục khởi kiện, phản kiện, các biện pháp bảo đảm, giải quyết tranh chấp trên cơ sở hòa giải, xử lý các hành vi vi phạm nghĩa vụ dân sự, và các quy định liên quan đến thực hiện quyết định của tòa án.

Bộ luật Tố tụng Dân sự là một trong những bộ luật quan trọng trong hệ thống pháp luật của Việt Nam, đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo tính minh bạch và công bằng trong giải quyết các tranh chấp dân sự và hành vi vi phạm nghĩa vụ dân sự.

1. Luật Tố tụng dân sự là gì?

Trong khoa học pháp lý, tố tụng dân sự là trình tự, thủ tục do pháp luật quy định giải quyết vụ việc dân sự và thi hành án dân sự.

Luật Tố tụng Dân sự là một ngành luật trong hệ thống pháp luật, bao gồm hệ thống các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong tố tụng dân sự để bảo đảm việc giải quyết vụ việc dân sự và thi hành án dân sự nhanh chóng, đúng đắn bảo về quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức và lợi ích của nhà nước.

2. Tìm hiểu quy định về Bộ luật tố tụng dân sự

Trước khi có Bộ luật tố tụng dân sự, Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản quy định về thủ tục để giải quyết những tranh chấp phát sinh như: Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự (năm 1989); Pháp lệnh công nhận và thi hành tại Việt Nam bản án, quyết 8i¡nh của Toà án nước ngoài (năm 1993); Pháp lệnh thủ tục giải quyết vụ án kinh tế (năm 1994); Pháp lệnh công nhận và thi hành tại Việt Nam quyết định của Trọng tài nước ngoài (năm 1995) và Pháp lệnh thủ tục giải quyết tranh chấp lao động (năm 1996). Các pháp lệnh này đã góp phần quan trọng trong việc tạo ra trình tự, thủ tục chặt chẽ để giải quyết các tranh chấp phát sinh trong nội bộ nhân dân, góp phần bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của tập thể, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực nêu trên, trong quá trình thực hiện, nhất là trước sự phát triển toàn diện của đất nước thì các pháp lệnh này cũng bộc lộ nhiều hạn chế: nội dung chưa đầy đủ, mới chỉ quy định về một số nguyên tắc cơ bản. Nhiều quy định không còn phù hợp nữa, thậm chí còn mâu thuẫn với pháp luật về tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp và có nhiều nội dung quan trọng chưa được quy định.

Bộ luật tố tụng dân sự được xây dựng nhằm pháp điển hoá các quy định của pháp luật hiện hành, bổ sung những thiếu sót về nguyên tắc và cơ chế giải quyết trong tố tụng dân sự, kinh tế, lao động, khắc phục sự tắn mạn, trùng lặp, thiếu đồng bộ trong các quy định của pháp luật; đồng thời, thể chế hoá quan điểm, chủ trương của Đẳng về cải cách tư pháp được ghi nhận trong các văn kiện của Đảng, đặc biệt là Nghị quyết số 08/NQ-TW ngày 02.01.2002 của Bộ Chính trị “Về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới”; cụ thể hoá các quy định của Hiến pháp năm 1992 (đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết 51/2001/2H10 ngày 25.12.2001) về phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế và khu vực.

Sau một thời gian dài chuẩn bị công phu, dự thảo Bộ luật tố tụng dân sự đã được hoàn thiện và trình Quốc hội Khoá XI cho ý kiến tại kì họp thứ tư (tháng 11.2003). Do đây là bộ luật lớn, quan trọng, thể chế hoá chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về cải cách tư pháp; các quy định trong Bộ luật có liên quan và ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống thường nhật của mọi người dân, nên Uỷ ban thường vụ Quốc hội đã tổ chức lấy ý kiến của nhân dân, các ngành, các cấp để tập trung trí tuệ của đông đảo nhân dân trong việc xây dựng bộ luật. Ngày 15.6.2004, Bộ luật tố tụng dân sự đã được Quốc hội khoá XI thông qua tại kì họp thứ năm, gồm 9 phần với 36 chương và 418 điểu, quy định về những nguyên tắc cơ bản trong tố tụng dân sự, trình tự, thủ tục khởi kiện yêu cầu giải quyết các vụ án dân sự, các việc dân sự (bao gồm các vụ, việc về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động); trình tự, thủ tục giải quyết các vụ việc tại Toà án; thi hành án dân sự; quy định về người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng, các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan cũng như quyền và nghĩa vụ của những người này; về thủ tục giải quyết một số loại việc dân sự có tính chất đặc thù; việc xử lí đối với các hành vi cản trở hoạt động tố tụng và khiếu nại, tố cáo; thủ tục giải quyết các vụ việc có yếu tố nước ngoài và tương trợ tư pháp trong tố tụng dân sự.

Hiện nay, Việt Nam đang áp dụng Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

3. Đối tượng điều chỉnh của luật tố tụng dân sự Việt Nam

Quá trình giải quyết vụ việc dân sự và thi hành án dân sự phát sinh nhiều quạn hệ khác nhau giữa toà án, viện kiểm sát, cơ quan thi hành án dân sự, đương sự, người đại diện của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, người làm chứng, người giám định, người phiên dịch, người định giá tài sản và người liên quan. Để thực hiện được nhiệm vụ của mình, luật tố tụng dân sự Việt Nam đã điều chỉnh các quan hệ này bằng việc quy định cụ thể các quyền và nghĩa vụ tố tụng của các chủ thể khi tham gia quan hệ, buộc các chủ thể phải thực hiện các hành vi tố tụng của mình phù hợp với ý chí của Nhà nước. Từ đó, có thể rút ra kết luận sau:

Đổi tượng điều chỉnh của luật tố tụng dân sự Việt Nam là các quan hệ giữa toà án, viện kiếm sát, cơ quan thi hành án dân sự, đương sự, người đại diện của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, người làm chứng, người giám định, người phiên dịch, người định giá tài sàn và người liên quan phát sinh trong tổ tụng dân sự.

Các quan hệ thuộc đối tượng điều chỉnh của luật tổ tụng dân sự Việt Nam bao gồm nhiều loại:

– Các quan hệ giữa toà án, viện kiểm sát, cơ quan thi hành án dân sự với đương sự, người đại diện của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, người làm chứng, người giám định, người phiên dịch, người định giá tài sản và người liên quan;

– Các quan hệ giữa toà án, viện kiểm sát và cơ quan thi hành án dân sự với nhau;

– Các quan hệ giữa các đương sự với những người liên quan.

Các quan hệ thuộc đối tượng điều chỉnh của luật tố tụng dân sự có đặc điểm chỉ phát sinh trong tố tụng, việc thực hiện mục đích của tố tụng là động lực thiết lập các quan hệ. Ngoài ra, các quan hệ thuộc đối tượng điều chỉnh của luật tố tụng dân sự đa dạng, hình thành giữa các chủ thể có địa vị pháp lý khác nhau. Trong đó, toà án, cơ quan thi hành án dân sự là các chủ thể có vai trò mang tính quyết định đổi với quá trình giải quyết vụ việc dân sự và tổ chức thi hành án dân sự.

Trong số các quan hệ thuộc đối tượng điều chỉnh của luật tố tụng dân sự thì các quan hệ giữa toà án và các đương sự chiếm đa số bởi toà án và các đương sự là hai chủ thể tố tụng dân sự cơ bản của vụ việc dân sự, ở bất kỳ vụ việc dân sự nào cũng đều phát sinh các quan hệ này.

4. Phương pháp điều chỉnh của luật tố tụng dân sự Việt Nam

Luật tố tụng dân sự là ngành luật cụ thể của hệ thống pháp luật Việt Nam, luật tố tụng dân sự khác các ngành luật khác không chỉ ở đối tượng điều chỉnh mà còn ở cả phương pháp điều chỉnh của nó. Phương pháp điều chỉnh của luật tố tụng dân sự là tổng hợp những cách thức mà luật tố tụng dân sự tác động lên các quan hệ thuộc đối tượng điều chỉnh của nó.

Phương pháp điều chỉnh của luật tố tụng dân sự cũng phụ thuộc vào tính chất và đặc điểm của các quan hệ xã hội thuộc đối tượng điều chỉnh của nó như phương pháp điều chỉnh của các ngành luật khác. Do đối tượng điều chỉnh của luật tố tụng dân sự cơ bản là quan hệ giữa các cơ quan nhà nước có nhiệm vụ bảo vệ pháp luật như toà án, viện kiểm sát, cơ quan thi hành án dân sự với những người tham gia vào quá trình giải quyết vụ việc dân sự và thi hành án dân sự như đương sự, người đại diện’của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, người làm chứng, người giám định, người phiên dịch nên luật tố tụng dân sự điều chỉnh các quan hệ này bằng hai phương pháp mệnh lệnh và định đoạt.

Luật tố tụng dân sự điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong tổ tụng bằng phương pháp mệnh lệnh thể hiện ở chỗ quy định địa vị của toà án, viện kiểm sát, cơ quan thi hành án dân sự và các chủ thể khác trong tố tụng không giống nhau; các chủ thể khác đều phải phục tùng toà án, viện kiểm sát và cơ quan thi hành án dân sự. Các quyết định của toà án, viện kiểm sát và cơ quan thi hành án dân sự có giá trị bắt buộc các chủ thể tố tụng khác phải thực hiện, nếu không sẽ bị cưỡng chế thực hiện. Sở dĩ pháp luật tố tụng dân sự quy định như vậy là xuất phát ở chỗ toà án, viện kiểm sát và cơ quan thi hành án dân sự có nhiệm vụ bảo vệ pháp luật, giải quyết vụ việc dân sự, tổ chức thi hành án dân sự và kiểm sát các hoạt động tố tụng. Đe thực hiện được chức năng, nhiệm vụ của mình, các cơ quan này phải có những quyền Ịực pháp lý nhất định đối với các chủ thể tố tụng khác. Do đó, ở các quan hệ do luật tố tụng dân sự điều chỉnh không có sự bình đẳng giữa toà án, viện kiểm sát và cơ quan thi hằnh án dân sự với các chủ thể khác.

Tuy vậy, ngoài phương pháp mệnh lệnh, luật tố tụng dân sự còn điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong tố tụng bằng phương pháp định đoạt vì các quan hệ pháp luật nội dung toà án có nhiệm vụ giải quyết trong các vụ việc dân sự là các quan hệ dân sự, kinh doanh, thương mại, lao động, hôn nhân và gia đình. Các chủ thể của các quan hệ này có quyền tự quyết định quyền lợi của mình khi tham gia vào các quan hệ đó. Trong vụ việc dân sự, các chủ thể đó là đương sự. Do vậy, để bảo đảm quyền tự quyết định quyền lợi của các đương sự trong tổ tụng, luật tố tụng dân sự điều chỉnh các quan hệ giữa toà án với các đương sự phắt sinh trong quá trình tố tụng bằng phương pháp định đoạt. Theo đó, các đương sự đửợc tự quyết định việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của họ trước toà án. Khi có quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm hay tranh chấp các đương sự tự quyết định việc khởi kiện, yêu cầu toà án giải quyết vụ việc. Trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự và thi hành án dân sự, các đương sự vẫn có thể thương lượng, dàn xếp, thoả thuận giải quyết những vấn đề tranh chấp, rút yêu cầu, rút đơn khởi kiện, tự thi hành án hoặc không yêu cầu thi hành án nữa.

Như vậy, luật tố tụng dân sự điều chỉnh các qũan hệ phát sinh trong quá trình tố tụng bằng hai phương pháp mệnh lệnh và định đoạt. Trong đó, phương pháp điều chỉnh chủ yếu nhất là phương pháp mệnh lệnh.

5. Những nguyên tắc đặc thù của luật dân sự

Nguyên tắc của mỗi ngành luật luôn được coi là kim chỉ nam cho chính ngành luật đó, là những tư tưởng chỉ đạo, định hướng hoạt động xây dựng cũng như thực hiện pháp luật của đều phải tuân thủ các nguyên tắc này. Luật Tố tụng Dân sự cũng vậy, nguyên tắc của Luật Tố tụng Dân sự có thể chia thành các nhóm chính như: Các nguyên tắc thể hiện tính tuân thủ pháp luật của hoạt động tố tụng dân sự;

Các nguyên tắc về tổ chức hoạt động xét xử của tòa án; Các nguyên tắc bảo đảm quyền tham gia tố tụng của đương sự; Các nguyên tắc thể hiện trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng;… Trong đó, các nguyên tắc đặc thù của Luật Tố tụng Dân sự có thể kể đến như:

5.1 Nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự

Nguyên tắc quyền tự định đoạt là một trong những nguyên tắc quan trọng của luật tố tụng hình sự. Quyền tự định đoạt của đương sự là quyền của đương sự trong việc tự quyết định về quyền, lợi ích của họ và lựa chọn biện pháp pháp lý cần thiết để bảo vệ quyền, lợi ích đó. Tại Điều 5 Bộ Luật Tố tụng Dân sự 2015 quy định về Quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự:

“1. Đương sự có quyền quyết định việc khởi kiện, yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự. Tòa án chỉ thụ lý giải quyết vụ việc dân sự khi có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của đương sự và chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện, đơn yêu cầu đó.

2. Trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, đương sự có quyền chấm dứt, thay đổi yêu cầu của mình hoặc thỏa thuận với nhau một cách tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội.”

Cơ sở của nguyên tắc này chính là từ quyền tự định đoạt trong quan hệ dân sự. Các quan hệ dân sự đều phát sinh, xác lập, thay đổi hay chấm dứt trên nguyên tắc tự nguyện, tự thỏa thuận giữa các bên tham gia. Mà Luật Tố tụng Dân sự là luật quy định về trình tự, thủ tục để giải quyết những yêu cầu, tranh chấp phát sinh từ quan hệ pháp luật nội dung (quan hệ pháp luật dân sự nói chung) nên nó luôn gắn liền với pháp luật nội dung. Từ đó, pháp Luật Tố tụng Dân sự quy định về quyền tự định đoạt của đương sự.

Đầu tiên, nguyên tắc này xác định quyền của đương sự tự quyết định về việc tham gia tố tụng dân sự, đó chính là các chủ hoàn toàn tự quyết về việc có khởi kiện vụ án dân sự hoặc yêu cầu giải quyết việc dân sự hay không? Các chủ thể có thể tự mình thực hiện quyền này hoặc thông qua người đại diện hợp pháp để thực hiện quyền. Bên cạnh quyền khởi kiện thì nguyên tắc này còn được thể hiện thông qua việc đưa ra yêu cầu phản tố của bị đơn và quyền đưa ra yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Trong quá trình tố tụng, các đương sự có quyền thay đổi, bổ sung, rút yêu cầu của mình trong các giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa xét xử. Bên cạnh đó, các đương sự hoàn toàn có quyền tự quyết trong việc hòa giải, tự thỏa thuận;…

Việc ghi nhận quyền tự định đoạt của đương sự là một nguyên tắc, Luật Tố tụng Dân sự đã đảm bảo cho đương sự được đảm bảo quyền, lợi ích của mình. Đồng thời, nguyên tắc này cũng xác định rõ ràng trách nhiệm của Tòa án là phải đảm bảo quyền lợi tốt nhất về quyền, lợi ích của đương sự. Và nguyên tắc này cũng tạo điều kiện cho đương sự có thể tìm được cho mình một phương thức để giải quyết tranh chấp một cách hiệu quả.

5.2. Nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự

Tại Điều 6 của Bộ Luật Tố tụng Dân sự 2015 quy định về nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự như sau:

“1. Đương sự có quyền và nghĩa vụ chủ động thu thập, giao nộp chứng cứ cho Tòa án và chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp.

Cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện, yêu cầu để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác có quyền và nghĩa vụ thu thập, cung cấp chứng cứ, chứng minh như đương sự.

2. Tòa án có trách nhiệm hỗ trợ đương sự trong việc thu thập chứng cứ và chỉ tiến hành thu thập, xác minh chứng cứ trong những trường hợp do Bộ luật này quy định.”

Nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự xác định khi đưa yêu cầu hay bác bỏ yêu cầu của người khác, đương sự có quyền, nghĩa vụ cung cấp chứng cứ chứng minh để làm rõ căn cứ yêu cầu của mình hay căn cứ bác bỏ yêu cầu của người khác. Trước tiên là đối với người khởi kiện khi khởi kiện thì có quyền, nghĩa vụ chứng minh cho việc thực hiện quyền yêu cầu, quyền khởi kiện của mình là có căn cứ và hợp pháp. Và nếu bị đơn không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn thì bị đơn cũng phải đưa ra các chứng cứ để chứng minh cho sự phản đối đó.

Trường hợp cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện yêu cầu tòa án bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người khác thì cũng có quyền, nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh như đương sự. Mặc dù các cơ quan, tổ chức, cá nhân không có quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm hoặc có tranh chấp nhưng các cơ quan, tổ chức, cá nhân đó là chủ thể đưa ra yêu cầu nên họ cũng phải chứng minh cho yêu cầu của mình đó là có căn cứ và hợp pháp.

Tòa án chỉ hỗ trợ đương sự thực hiện nghĩa vụ chứng minh trong trường hợp họ không thể tự mình thực hiện được và trong những trường hợp pháp luật quy định. Trường hợp các đương sự không cung cấp, giao nộp chứng cứ hoặc đưa ra không đủ chứng chứ thì Tòa án giải quyết vụ việc dân sự theo chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ việc và do Tòa án thu thập được.

5.3. Nguyên tắc hòa giải trong tố tụng dân sự

Nguyên tắc hòa giải trong tố tụng dân sự là một nguyên tắc cơ bản và đặc trưng trong Tố tụng dân sự. Nguyên tắc xác định trách nhiệm của Tòa án trong việc hòa giải vụ việc dân sự và tạo điều kiện thuận lợi cho các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ việc dân sự trên cơ sở tự nguyện (tự nguyện tham gia hòa giải, tự nguyện về nội dung hòa thỏa thuận), nội dung thỏa thuận không vi phạm điều cấm của pháp luật, trái với đạo đức xã hội. Nguyên tắc này được ghi nhận tại Điều 10 Bộ Luật Tố tụng Dân sự 2015: “Tòa án có trách nhiệm tiến hành hòa giải và tạo điều kiện thuận lợi để các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ việc dân sự theo quy định của Bộ luật này.”

Nguyên tắc này được thể hiện trong giai đoạn chuẩn bị giải quyết vụ việc, Tòa án có trách nhiệm tiến hành hòa giải cho các đương sự( Khoản 1 Điều 205 Bộ Luật Tố tụng Dân sự 2015) thông qua phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng chứ và hòa giải. Trong thủ tục hòa giải, Tòa án đóng vai trò là một bên trung gian, độc lập giúp các đương sự thương lượng, thỏa thuận về việc giải quyết vụ việc dân sự. Tại phiên tòa, phiên họp giải quyết vụ việc, Tòa án tạo điều kiện tốt nhất cho các đương sự có thể thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ việc.

Nguyên tắc hòa giải trong tố tụng dân sự có ý nghĩa rất lớn cho việc giải quyết vụ việc dân sự. Đó là cơ hội để các bên cùng thỏa thuận để giải quyết triệt để vụ việc, tạo điều kiện thuận lợi cho việc thi hành án. Đồng thời, cũng giúp cho hoạt động giải quyết vụ việc dân sự tại tòa án thêm hiệu quả, linh hoạt hơn.